Những câu chuyện Paris

CUỘC MARATHON

Dominick Veltre

Khác với “Heroin”, “Cuộc Marathon” là một truyện ngắn có cấu trúc phức tạp và có diễn biến bất ngờ. Mở đầu một cách bình thường như bao câu chuyện tình chớp nhoáng khác của những người trẻ sống ở Paris vào mùa hè, nó nhanh chóng trở thành một mạch dòng ý thức (stream of conciousness) trong đó tác giả bùng nổ theo những cảm xúc và suy nghĩ dồn dập dưới ảnh hưởng của các loại chất kích thích (rượu, cocaine) và chất hướng thần (LSD). Một bức tranh sống động và điên rồ nhưng cũng rất đẹp về Paris những năm cuối thập niên ’70 của thế kỷ trước.

(Tất cả chú thích là của người dịch, hình minh họa là Place St. Sulpice , một địa điểm được nhắc đến trong truyện ngắn)

"Paris by night, St. Sulpice Church"

***

Tôi có bạn gái mới. Tên nàng là Rebecka. 24 tuổi. Dân hippie. Có một chiếc xe mô tô. Tôi đã gặp Rebecka vào một buổi chiều khi tôi đang say một cách lố bịch. Say đến mức tôi không nhớ là đã gặp Rebecka nhưng may mà nàng chỉ say bằng ¾ so với tôi và nàng đã nhớ, cũng như đã nói với tôi về việc gặp gỡ này sau khi chúng tôi gặp nhau lần thứ hai và bắt đầu đi chơi với nhau. Tôi sẽ kể thêm về Rebecka sau đây.

Hãy để tôi kể cho bạn nghe về cuộc marathon.

Tôi được thuê bởi George già, chủ của Chez Georges, quán rượu ở ngay cạnh căn hộ của tôi để chụp ảnh ông ta cho cuộc marathon thường niên lần thứ 15 có tên “Marathon de Leveurs de Coudes” (*) Chez Georges là tổng hành dinh của tôi khi tôi không ở nhà. Sự thật là, nếu bạn không thể tìm thấy tôi ở đâu thì cứ đến Chez Georges mà tìm. Thậm chí tôi thỉnh thoảng còn nhận các cuộc điện thoại ở đấy. Cháu của George là Jean-Francois, 23 tuổi và điều hành sàn cabaret ở tầng hầm là một trong những người bạn tốt của tôi. Năm nay George được bầu làm “President d’honneur” (chủ tịch danh dự) và phải diễu hành trên một chiếc xe hơi cổ khá oách với những người nổi tiếng khác cùng tham gia vào hoạt động truyền thống thần thánh này của Quận 6. Và vì tôi là thợ ảnh chính thức của George, tôi cũng phải đứng trên bậc lên xuống của cái xe cổ kia để đi diễu hành với những người nổi tiếng. Tôi cũng được phát một cái phiếu ăn và một cái thẻ phóng viên để ra vào tự do một cái lều lớn mà họ đã dựng lên ở Place St. Sulpice cho sự kiện này.

Tôi cũng được uống thoải mái hết mức cả ngày mà không phải trả tiền.  Nhưng đối với tôi thì ngày chỉ dài đến khoảng 5 giờ chiều…

Cuộc marathon khá là rình rang với cánh phóng viên TV và rất nhiều người nổi tiếng. Thậm chí cả trưởng quận cũng có mặt, cũng dễ hiểu thôi, điều đó có nghĩa là chúng tôi không hề gặp phải vấn đề gì với cảnh sát.  Mục tiêu của cuộc Marathon nói chung là gây náo loạn cả khu trong lúc ghé thăm 42 bar trên địa bàn và vào uống một ly Beaujolais ở mỗi bar.

Tôi đã làm đúng như vậy. Điều đó có nghĩa là tôi đã về đích, tôi đoán vậy. En quelque sort

Rebecka kể với tôi rằng tôi đã gặp nàng ở đâu đó trên rue St. Andre des Arts.  Có vẻ như tôi đã trượt khỏi bậc lên xuống của cái xe rất oách kia và nhìn thấy nàng đứng đó với cô bạn thân của nàng, Elizabeth, và tôi đã nói: “Ah! Qu’elle est jolie!” (“Ồ, em hẳn là đẹp đấy!”).  Đó là lần đầu tiên tôi gặp Rebecka.  Nhưng như tôi đã nói, chuyện về Rebecka để sau đã.

Vào lúc đám diễu hành quay về rue des Canettes, tôi đã đi loạng choạng xiêu vẹo, đánh rơi thiết bị của máy ảnh, hét vào mặt những người mà tôi chưa bao giờ gặp trước đây và nói chung tôi thấy rất vui. Alex bạn tôi, con trai của Đại sứ Thụy Sỹ – kẻ uống nhiều và làm việc ít hơn bất kỳ ai mà tôi biết (bao gồm cả tôi) nhưng nhìn vẫn bảnh bao trong bộ cánh giá 2000 đôla Mỹ mà bố mẹ hắn và chính phủ Thụy Sỹ sắm cho hắn – đã tìm thấy tôi và bày tỏ quan điểm của hắn rằng đây sẽ là thời điểm khôn ngoan để tôi về nhà và sập.

Alex đưa tôi về nhà.

Tôi thì đã làm rơi chìa khóa.

Tôi trèo qua đường ống nước vào cửa sổ phòng mình và lấy viên gạch đập vỡ nó (lần thứ ba trong năm nay).

Hàng xóm mắng tôi (lần thứ mười mấy trong năm nay).

Tôi mắng lại hàng xóm. (thường thì tôi không mắng lại họ, nhưng hôm nay tôi đang ở trạng thái ngoại lệ.)

Alex cười và liên tục nhắc tôi phải cẩn thận không thì ngã.

Tôi trèo vào trong phòng của mình và hàng xóm bảo tôi là tôi nên nôn hết ra trước khi lên giường.

Tôi xỉa ngón tay giữa vào mặt hàng xóm, thò đầu ra ngoài cửa sổ để nôn (vào đám cây cảnh của họ) và lên giường, như họ đã khuyên nhủ.

Thế là quá nhiều về cuộc marathon.

Những bức ảnh, ngoại trừ hai ba bức cuối cùng, hóa ra lại rất tuyệt. Tôi chụp bảy cuộn phim cỡ 36 và chỉ có thể nhớ là đã chụp ba cuộn đầu tiên. Thói quen khó bỏ, đó là chụp được những kiểu ảnh đẹp khi tôi thực sự say xỉn (giống như hồi tôi còn là “A1C Nick Veltre, Nhiếp ảnh gia Không lực Hoa Kỳ”). Hai hoặc ba tấm hình cuối chỉ là những bức ảnh mất nét chụp chân của vài người, trong đó có tôi.

Sáng hôm sau tôi thấy thực sự tồi tệ. Tồi tệ cả về mặt thể xác lẫn cảm giác đối với những người hàng xóm phải chịu đựng tôi từ lâu. Tôi cần một bao thuốc vì thế tôi ngồi dậy và mặc nguyên quần áo của ngày hôm trước để đến cửa hàng thuốc lá trên St. Sulpice. Tôi dựng cổ áo, đeo kính râm và kéo sụp lưỡi trai xuống mặt, hy vọng hàng xóm không nhận ra tôi.

Tôi băng qua vườn và đi ra đường. Tốt rồi. Không có mống hàng xóm nào.

Trong lúc đi qua rue de Canettes hướng về St. Sulpice, tôi nghe thấy tiếng một chiếc mô tô tấp vào và dừng lại phía sau tôi ngay trước nhà hàng Thụy Sỹ chuyên phục vụ món sốt phô mai đun nóng và phô mai cứng nung chảy với rượu vang chính hiệu vùng Alsace.

Salut monsieur le photographe!”

Merde” Tôi chột dạ, “Bị úp sọt rồi”.

Tôi quay lại và hỏi cô gái, bằng tiếng Pháp:  “Ta có quen nhau không cô em?”

Nàng bỏ mũ bảo hiểm ra và rũ rũ tóc giống như những cô nàng trong quảng cáo dầu gội đầu, rồi nàng cười và nói, “Chào anh, je suis Rebecka.  Có thể anh không nhớ, nhưng chúng ta đã gặp nhau ngày hôm qua, au marathon.”

Nàng có nụ cười rất tuyệt và có vẻ khá dễ thương. Tiếng Anh của nàng khá tốt. “Oh oui?” là tất cả những gì tôi có thể nói lúc cảm thấy xấu hổ vì đã có người nhận ra tôi trong khi tôi thì vừa mới xúc phạm tất cả hàng xóm láng giềng vào ngày hôm trước.

“Anh thấy thế nào? Khá hơn chưa?”

“Ồ đây không phải lần đầu. Rồi cũng ổn thôi mà. Cô thì sao?”

Ca va.  Thế còn những tấm ảnh, có đẹp không?”

“À… ừ… tôi chưa biết thế nào. Tôi đưa phim cho George rồi. Ông ấy sẽ đi tráng phim hôm nay.”

Bon.  Để hôm khác em xem nhé. Không cần phải vội đâu anh!” và nàng đội mũ bảo hiểm lên đầu phóng đi mất. Tôi thì đi tiếp, mua thuốc lá và bò trườn về chỗ của mình theo cái cách thích hợp với thứ đồ cặn bã như tôi đang cảm thấy. Như cái thứ cặn bã mà tôi từng là. Như cái thứ cặn bã là tôi bây giờ? Đúng, như cái thứ cặn bã là tôi bây giờ.

Tôi gặp nàng vài đêm sau đó. Tất nhiên là ở Chez George. Tôi đã ngồi vạ vật ở nhà với Steve và chúng tôi thảo luận về kế hoạch kinh doanh mới nhất của chúng tôi hay là một thứ bỏ mẹ gì đó cho đến khi chúng tôi cảm thấy thèm rượu và nghĩ về những chai rượu vang đỏ ô trọc giá 16 franc ở Chez George, thứ rượu làm ố bẩn mọi thứ và đẩy con người ta vào con đường phạm pháp. Chúng tôi quyết định đi xuống và mua một chai mang về.

Quán rượu chật ních và tôi phải chen lấn đến sau quầy bar nơi những chai rượu được xếp thành đống và chọn một chai vang đỏ rẻ tiền, trong lúc tôi đang quay lại bảo George trẻ ghi nợ cho tôi thì ai đó vỗ vào vai tôi và nói “Này, anh nhiếp ảnh gia!”

“Là em à Rebecka” – tôi trả lời.

“Vâng, còn anh hẳn là ông Nick.  Anh thế nào?”

“Khá hơn rồi. Em thì sao?”

Chúng tôi ngồi lại và bắt đầu nói đủ thứ chuyện không đầu không cuối trong khi Steve lẩn quẩn ngoài cửa và bắt đầu thấy nhàm chán, hắn nói

“Cái quái gì thế? Mày định ngồi đây nói chuyện với em này cả đêm à?”

Oui“.

Bon. Đưa cái chai cho tao, tao sẽ chờ mày trên nhà.”

“Được thôi.  Spater, ông bạn.”  Tôi đưa cái chai cho Steve mà không rời mắt khỏi cô nàng hippie đi mô tô và hắn ta bỏ đi.

Rebecka mua đồ uống cho tôi và rồi tôi mua chịu đồ uống cho nàng, chúng tôi ngồi nói chuyện cho đến khi Chez George đóng cửa lúc 2 giờ sáng. Chúng tôi hẹn nhau đi chơi tiếp vào đêm hôm sau.

Khi tôi quay về nhà, chỉ có một mình, Steve đã uống hết đúng nửa chai rượu và đã nằm thẳng cẳng từ đời nào.

Đêm tiếp theo, tôi gặp Rebecka ở Chez George như đã định và ngay lập tức tôi đưa nàng về nhà để làm vài đường cocaine. Hàng này là của Steve nhưng thôi, kệ hắn. Bạn bè là để cho những lúc thế này đúng không? Sau khi đã ngất ngây, tôi cô nàng đi mô tô bé nhỏ của tôi bắt đầu xuống đường, đường phố đêm thứ Sáu đang chờ đợi chúng tôi phía xa khu vườn bên ngoài cánh cửa mới được sơn lại của nhà số 13 rue des Canettes.(Trước đây nó sơn màu xanh, bây giờ là màu đỏ.)

Một chai Beaujolais uống được ở Chez George có giá 45 francs.  George trẻ dặn chúng tôi giữ lạnh trước khi uống nhưng hắn thừa biết chúng tôi sẽ không làm thế. Chúng tôi mang theo vài cái ly uống rượu từ nhà tôi. Sau khi uống hết hai ly và đi qua vài dãy nhà từ căn hộ của tôi, chúng tôi đã thấy Place St. Sulpice nằm đó chờ đợi cho buổi tối của chúng tôi. Chúng tôi đến đó, ngồi xuống, tìm một chỗ hoàn hảo trong vũ trụ ngay cạnh cái đài phun nước nằm trước nhà thờ, uống rượu và cười cợt về cái chỗ này. Chúng tôi cảm giác như đã từng ở đây và thật là tuyệt với những âm thanh ồn ào của đài phun nước phía sau chúng tôi và cái viễn cảnh điên rồ của cái nhà thờ hai tháp được thắp sáng trong thứ màu cam ngập tràn phía trước chúng tôi.

Và rồi, Jean Pierre đến cùng với cái pizza.

Chưa ai trong chúng tôi đã từng gặp Jean Pierre trước đây và chúng tôi không gọi pizza, nhưng anh ta đã mang pizza đến, nói rằng “thật dễ thương phải không” rồi ngồi xuống và bảo chúng tôi hãy ăn pizza đi vì anh ta thích gương mặt của chúng tôi, và những cái ly của chúng tôi thật tuyệt, và anh ta uống rượu của chúng tôi sau khi đã bỏ rượu của anh ta vào trong đài phun nước để làm lạnh.

Anh ta cũng mua rượu ở Chez George.

Anh ta kể rằng bạn gái vừa bỏ anh ta, và anh trai của anh ta đã gia nhập lực lượng lê dương vì bố của anh ta đã treo cổ, và rồi chúng tôi mở tiếp một chai rượu nữa. “Hai bạn ăn hết pizza đi chứ”. Chúng tôi làm đúng như vậy và tôi bảo Rebeka hãy lấy xe đưa tôi đi, vì (một cách thầm lặng) anh chàng này khiến chúng ta cảm thấy bất an, nàng đồng ý và chúng tôi rời đi để có một buổi tối tuyệt diệu ở những con phố quanh Chatelet và những ngóc ngách của quận 10 nơi chúng tôi tìm được một hầm rượu có tên là “L’amie de Pierre”.  Giờ thì chúng tôi đưa tất cả bạn bè tới đây vì George đang đi nghỉ.

Buối sáng hôm sau khi nàng rời đi, có nụ cười cứ đọng mãi trên khuôn mặt tôi. Chúng tôi thậm chí còn không làm tình và sẽ phải mất một thời gian nữa trước khi chúng tôi làm việc đó nhưng tôi vẫn cười vì chuyện đêm qua thật tuyệt thật mới thật đẹp thật đơn giản thật hợp thời và bởi vì tôi là một người sống trong thứ hiện tại mà ở đó tôi không còn muốn biết thêm một điều gì nữa và vì thế tôi cảm thấy quá là vui đi.

Và đến giờ thì mọi thứ đều đẹp, đều điên rồ và tôi đã quá ư là phấn khích.

Đến cuối tuần sau thì tôi đã thức dậy bên nàng vào sáng Chủ nhật và nàng khỏa thân đọc Baudelaire cho tôi nghe cả ngày sau cuộc truy hoan vũ trụ ngập tràn acid (**) với những người bạn mà chúng tôi đã mời đến cái đập nước ở giữa Paris mà không nhiều người biết đến.

Đó là sinh nhật của Jean Baptist. Hắn trèo qua tường của đập nước và mở cửa cho tất cả chúng tôi vào. Chúng tôi có 8 hay 10 người gì đó và tất cả chúng tôi đều xuống bơi. Khi tất cả đã lên đỉnh vào lúc 3 giờ sáng và tất cả mọi thứ tưởng như đều vỡ vụn trong những điệu nhảy, tôi đã thất kinh trước những chuyển động ngang dọc bầu trời của Mặt Trăng và Chúa Trời nói với tôi rằng tất cả chỉ là hư vô và thứ đáng quan tâm nhất đang ở đây, ngay bây giờ; tôi thấy nàng đang hét vào miệng cống, nghe những âm thanh ấy chạy vòng quanh và dội đi dội lại đến 16 lần trước khi bị nuốt chửng vào cái bụng ngầm của Paris. Tôi đã cố gắng kể cho nàng về mặt trăng nhưng nàng chỉ muốn có một cái guitar và một cái máy thu băng để giải thích về tất cả những điều sẽ xảy đến ngày mai.

Nhưng làm sao mà giải thích được về ngày mai. Chúng tôi hiểu điều đó, và trong một khoảnh khắc nó làm chúng tôi thấy buồn. Những nguyên tố cần phải có để liên kết thơ ca với toán học với thiên văn học với sự phức tạp của vườn đá thiền với sự giản đơn của phân tách nguyên tử và với tất cả những biểu tượng, những công cụ khác được chứng minh là hiệu quả  để mô tả tính liên kết và to lớn của vũ trụ đều chưa được khám phá. Và chúng tôi hiểu điều đó.

Và giờ đây khi nàng đang tạm rời xa tôi, tất cả những gì tôi có thể làm là hy vọng rằng không ai trong chúng tôi rơi vào bẫy tình hoặc bị dục vọng lôi kéo khi nàng không ở đây. Nhưng nàng có thể nếu nàng muốn vì nàng đâu phải của riêng tôi. Nàng là của nàng, tôi là của tôi và tôi xác định rằng sẽ để sự chiếm hữu ra ngoài mối quan hệ này. Dù gì thì chúng ta chưa bao giờ thực sự sở hữu bất kỳ thứ gì và bất cứ ai. Chúng ta chỉ tư lợi từ sự hiện hữu của những con người và những thứ mà chúng ta đặt xung quanh mình thôi.

Mà này, bị dục vọng lôi kéo chưa chắc đã là cái gì đó xấu xa. Suy cho cùng thì vẫn đang là mùa hè ở Paris, đúng không? Và tôi là của tôi.

__________________________

(*) Marathon của dân nát rượu.

(**) Tiếng lóng chỉ LSD, một loại ma túy thuộc nhóm thức thần (psychedelic)

Advertisements

Những câu chuyện Paris

Giới thiệu tác giả.

Dominick “Nick” Veltre, sinh năm 1963 tại New Jersey (Hoa Kỳ), đã từng phục vụ trong bộ phận phân tích thông tin của Không lực Hoa Kỳ, đồn trú tại Tây Đức. Sau khi giải ngũ học Tài chính tại Pháp, sau đó hành nghề tại Mỹ, Úc, Hawaii trước khi đến Việt Nam vào năm 2008. Hiện sống ở Hà Nội và hành nghề tự do trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và bảo hiểm.

“Paris Stories” là những ghi chép của Nick về quãng thời gian sống sôi động của mình tại Paris trong thập niên 80 của thế kỷ XX, với văn phong ảnh hưởng lớn từ Ernest Hemingway, Henry Miller, Jack Kerouac và William Burroughs. Truyện ngắn “Heroin” được trích từ tập này.

904

HEROINE

Gần đây tôi đã đi ăn tối với ông bạn già của tôi, Emile, làm ở bộ phận đào tạo của OECD, nơi mà ông ta rất được kính nể và làm rất tốt công việc của mình. Emile khoái tôi đủ để mua cho tôi các thứ ngay cả khi tôi có tiền để mua chúng. Emile là một con người tốt và hào phóng. Emile dùng heroin nhưng tôi không thể dựa vào đó để chê trách ông vì ông dùng khá điều độ và không thường xuyên. Thậm chí tôi đã thử dùng một lần với ông vì tôi thích thử mỗi thứ ít ra là một lần trong đời.

Heroin khá phê nhưng không thực sự thú vị: bạn chỉ ngồi đó và thấy phê chứ không nghĩ được gì nhiều cả. Tuy nhiên việc bạn muốn dùng nhiều hơn vào ngày hôm sau thì đúng là sự thật. Rõ ràng đó không phải là một ý hay và nó không bao giờ xuất hiện lại trong đầu tôi.

Emile đã đưa tôi đến một nhà hàng Ý nhỏ ở quận 15, ở đó chúng tôi dùng bữa trên sân ngoài hiên, rồi chúng tôi uống cognac ở một cái sân ngoài hiên khác ở góc đại lộ Felix Faure giao với rue de la Convention. Tiếp đến, sau khi đi bộ từ quận 15 lên rue Lecourbe và đi tiếp xuống rue Vaugirard đến St. Germain des Pres, là tới căn hộ một phòng nhỏ của tôi tại tầng trệt phía sau khu vườn tại số 13, rue des Canettes, tôi vẫn thấy đói. Tôi luôn thấy đói.

Trong lúc phê, sau khi ăn, Emile và tôi đã xem phim “Trung đội” (phim lồng tiếng Pháp, xem thật ngu xuẩn) bằng đầu video của ông và uống một lượng đáng kể Johnny Walker Red (với nước và đá vì đây là những năm ’80 ở Paris – bình thường thì tôi uống không pha gì và không có đá.) Khi tôi đến được St. Germain thì lúc ấy đã muộn. Muộn một cách cồn cào.

Tôi gọi một cái sandwich grec, như thường lệ, ở rue de la Huchette (Emile già tốt bụng đã cho tôi vay 100 francs; cũng giống như tất cả bạn bè của tôi gần đây đều đã cho tôi vay 100 francs).

Mút mát ngón tay và thấy thèm thuốc, tôi dừng lại ở quán cafe “Old Navy” trên Đại lộ St. Germain, nơi duy nhất còn mở cửa vào lúc 4 giờ sáng. Tôi ngồi uống ở quầy bar vì đó là cách rẻ nhất để uống và là cách duy nhất để uống nếu bạn, cũng giống như tôi, cô đơn và uống một mình một cách nghiêm túc vào một buổi tối thứ Năm ở trung tâm của vũ trụ, hoặc ít ra là ở Paris nếu như Gare de Perpignan ở quá xa và Salvador Dali thì đã chết.

Trong lúc ngồi uống một cách nghiêm chỉnh 25 xăng ti lít bia Kronenbourg, mức yêu cầu tối thiểu nếu như bạn muốn mua một bao thuốc vào lúc 4 giờ sáng ở trung tâm của vũ trụ, hoặc ngay cả (đặc biệt là) ở Paris, tôi nhìn ngắm một cách thích thú cảnh ba cô gái dễ thương, còn quá trẻ để có thể làm gì hơn là âu yếm vuốt ve, và rõ ràng là gái Mỹ đang ngồi ở một chiếc bàn với ba gã người Ý già, hẳn nhiên là đã kết hôn (và có 14 đứa con mỗi thằng).

Cho dù các cô gái khác nhau một cách rõ ràng, nhưng tôi cảm thấy mỗi người trong bọn họ, theo một cách kỳ lạ, đều như là đứa em gái nhỏ của mình.

Và tôi phản ứng theo cách đó.

Hành động duy nhất có thể là, tất nhiên, phơi bày những cơ bắp to chắc và lên hình một cách lạ thường của tôi và mời ba thằng khọm già ra ngoài đấu tay bo, và tất nhiên là chúng từ chối vì thân hình đặc biệt lớn và cực kỳ đe dọa cao 5 foot 7, nặng 140 pound của tôi.

Hoặc có thể chính cái thái độ say xỉn và tỏ vẻ đàn anh của tôi đối với các cô gái đã làm cho chúng sợ. Tôi đề nghị các cô bỏ bọn khọm già để đi với tôi. Việc này còn lớn chuyện và nguy hiểm hơn cả cơ bắp, cân nặng, chiều cao và hàm răng sắc.

Ngay cả bọn doanh nhân Ý già đang nứng cũng hiểu điều đó.

Dù sao thì các cô gái cũng đánh giá cao điều đó và mời tôi ngồi uống cùng. Tôi chấp nhận một cách đầy biết ơn vì trong lúc hết tiền, tôi không thích gì hơn là uống rượu với người lạ vào lúc 5 giờ sáng. Đặc biệt là khi họ trẻ, dễ thương, quyến rũ, ngây thơ và trả tiền! Tôi đã về nhà vào lúc 8 giờ sáng.

Điệp viên.

xecyy0zo3hkkdzf0hyxs

Haifa, Israel. Tháng 8/1977

– Cậu đã hiểu rõ nhiệm vụ của cậu chưa?

– Vâng, thưa ngài – tôi nói như một cái máy vì người đàn ông trước mặt đã được mặc định là cấp trên của tôi. Cách đây một phút tôi còn chưa hề thấy ông ta, nhưng có một cái chân lý là tôi sẽ phải nghe theo ông ta một cách tuyệt đối.

– Khung cảnh quanh đây quả là quyến rũ đấy.

Ông ta vừa khoát tay vừa nói. Thật ra chẳng cần ông ta nhắc, tôi cũng đã chết mê chết mệt cái khung cảnh này từ trước khi ông ta xuất hiện rồi.

– Nhưng cậu không phải James Bond, cậu không phải kẻ đào hoa đến đây săn lùng thông tin và phụ nữ. Cậu hãy nhớ, nhiệm vụ của cậu là phải thực hiện được một cách hoàn hảo một vài hành động trong giới hạn thời gian cho phép.

Tôi và cấp trên đang đứng trên một cái ban công rộng lớn của một tòa biệt thự ở Haifa, nhìn thẳng ra biển. Đêm mùa hạ Địa Trung Hải lộng gió. Gió mơn man trên những bụi cây cảnh, trên những chiếc váy lụa và da thịt mơn mởn của những người phụ nữ đang đứng thành từng nhóm chuyện trò rôm rả với ly champagne trên tay. Âm nhạc lúc dìu dặt, lúc du dương, đánh thức mọi giác quan của tôi. Tôi khoan khoái tận hưởng tất cả những thứ đó trong khi cấp trên của tôi vẫn tiếp tục câu chuyện tẻ ngắt của ông ta. Những họa tiết trên chiếc khăn Cashmere của ông ta trông càng lúc càng lố bịch. Tôi chuyển hướng sự tập trung của mình sang những miếng bánh baklava mà những thợ làm bánh lành nghề của Haifa đã kỳ công cắt thành hình những viên kim cương đang nằm long lanh mời gọi trên đĩa. Cho đến khi giọng hát lanh lảnh của Carly Simon cất lên “Nobody does it better, baby you’re the best…“.

The Spy Who Loved Me” vừa ra rạp tháng trước, và anh chàng Roger Moore đã làm một cách xuất sắc vai trò người kế thừa Sean Connery. Đoạn mở đầu phim thật nhố nhăng, nhưng là nhố nhăng một cách thiên tài. Năm 1977, tính cho đến lúc tôi đứng ở đây, là một năm thật hỗn loạn với nước Anh. Tháng Giêng, nhóm Sex Pistols chửi bậy trên chương trình Today Show của kênh ITV. Tháng Hai, cảnh sát phát hiện ra một nhà máy sản xuất bom của IRA ở ngoại ô Liverpool. Tháng Ba, Chính phủ công bố rằng lạm phát đã làm cho giá cả hàng hóa tăng hơn 70% trong vòng ba năm, một kỷ lục vô tiền khoáng hậu trước nay chưa từng có trên đất đai của Nữ Hoàng. Tháng Tư, bọn cực tả thuộc National Front đụng độ với những người biểu tình chống phát xít ở London. Tháng Năm, tháng kỷ niệm 25 năm ngày Nữ Hoàng Elizabeth lên ngôi, và lại là bọn Sex Pistols gây shock (hay ngạc nhiên, hay thú vị) cho cả nước Anh bằng việc tung ra ca khúc “God Save the Queen” với gã choai choai Johnny Rotten ngoạc mồm ra mà kêu rằng chẳng còn tương lai gì cho cái đất nước này nữa rồi, rằng chúng ta chỉ là những bông hoa tàn trong thùng rác mà thôi. Tháng Sáu, Yorkshire Ripper tiếp tục bảng thành tích man rợ bằng việc hạ sát nạn nhân thứ năm, lạy Chúa lòng lành phù hộ cho linh hồn của họ sớm siêu thoát, không biết đến đời con cháu chúng ta các điều tra viên mẫn cán đã có thể tìm ra chân tướng của cái thằng khát máu gớm ghiếc này không. Vậy đấy, năm 1977 là một năm nát bét như khoai tây nghiền. Không còn gì vực dậy tinh thần dân tộc hơn là một bộ phim làm về một người hùng Anh Quốc bất khả chiến bại, văn chương thông suốt võ nghệ tinh tường. Tôi nhớ là mình đã ngồi trong rạp Odeon ở Leicester Square, và khi cái dù hình lá cờ Union Jack bung ra trên bầu trời nước Áo, báo hiệu cuộc đào thoát ngoạn mục của Bond khỏi vòng vây của các điệp viên Soviet đã thành công rực rỡ, thì bầu không khí trở nên im lặng khác thường, trước khi nổ tung với tiếng hoan hô, rú rít, tán thưởng đầy hào hứng. Một chiêu trò thật đơn giản để kích thích tinh thần dân tộc, và nó cũng chứng minh một điều là dân Anh vẫn còn lưu luyến cái dòng máu đế quốc lắm.

“Nobody does it half as good as you, baby, you’re the best”

– Cậu phải đứng đây. Vào lúc 22 giờ 45 phút sẽ có một người phụ nữ đứng trên ban công tầng thượng bắn một phát súng. Nhiệm vụ của cậu là phải ngã xuống mặc dù chắc chắn là cậu sẽ không trúng đạn.

– Tôi sẽ phải ngã xuống trong bao lâu?

– Cho đến khi đám đông xung quanh chạy hết.

– Làm sao mà tôi biết được?

– Cậu được đào tạo để phán đoán môi trường xung quanh, đúng không? Đừng để tôi nghĩ rằng tiền thuế của dân Anh đã bị uổng phí.

– Vâng, bố mẹ tôi cũng đóng thuế. Tôi sẽ không làm tốn tiền của bố mẹ tôi.

– Cậu cũng không cần quan tâm đến những gì xảy ra sau đó.

Tất nhiên là tôi không quan tâm rồi, tôi chỉ muốn tất cả kết thúc để sau đó trở về căn phòng của mình ở khách sạn Dan Carmel, tựa mình vào lan can nhìn ra biển và uống một cái gì đó. Lý tưởng nhất là một ly Dalmore, nhưng trên thực tế thì tôi có thể hài lòng với bất cứ thứ gì mà những tay quản lý khách sạn Do Thái khôn ngoan và chắc lép đã đặt vào trong quầy mini bar: VAT 69, J&B, Cutty Sark, Ballantines, và có thể có thêm Glenfiddich hoặc một nhãn hiệu single malt khác vừa túi tiền. Tôi quyết định chọn Dan Carmel khi đến Haifa, vì nó gợi cho tôi nhớ đến cái khách sạn yêu thích của tôi ở Beirut, đó là Phoenicia. Phoenicia huy hoàng, lộng lẫy giờ này chỉ còn là phế tích sau hơn một năm hứng đạn rocket từ những trận đọ súng dữ dội giữa phe thân Thiên Chúa giáo và phe thân Hồi giáo, trong một chương của cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử Lebanon mà người ta hay gọi dưới một cái tên mỹ miều là Trận Chiến Khách Sạn.

– Bây giờ là 22 giờ 30 phút đúng. Cậu có 15 phút để chuẩn bị cho một vai diễn giả chết ấn tượng nhất trong lịch sử, mà chất lượng của nó có thể sánh ngang với bất cứ cái kết nào của một bộ phim bi nào làm về những người anh hùng của thời đại chúng ta. Cậu nhìn đi đâu thế? Cậu có nghe tôi nói không đấy?

– Tôi vừa nhìn thấy một người rất giống Ali Hassan Salameh đi qua – Tôi chụm tay lên miệng giả ho để đưa mạch suy nghĩ về Phoenicia và nội chiến Lebanon ra khỏi đầu.

Cấp trên của tôi biến sắc mất một chút, nhưng ông ta lấy lại được vẻ bình thản rất nhanh:

– Không thể, theo những nguồn tin mới nhất mà chúng ta có được thì Salameh đang ở Tây Ban Nha. Mossad đã săn lùng hắn suốt từ sự kiện Munich đến nay, họa có điên hắn mới xuất hiện ngay trên đất Israel.

– Tôi biết. Nhưng Salameh cũng không cẩn trọng gì cho lắm. Hắn lái xe xịn, được phụ nữ vây quanh, và không úp mở gì về việc mình được CIA bảo vệ.

– Tất nhiên dân trong nghề đều hiểu rằng các phong trào vũ trang ở Trung Đông đều cố gắng xây dựng lên một hình mẫu như vậy. Hãy nhìn Bachir Gemayel mà xem, thanh niên Lebanon phát cuồng vì hắn, dân quân Phalange chạm cả hình hắn vào báng súng.

– Vâng, Bachir Gemayel cũng giống như David Bowie của sân khấu chính trị vậy.

– David Bowie à? Cậu nên nói chuyện đó với thằng con tôi thì tốt hơn. Cậu còn 10 phút nữa. Dừng chuyện lan man ở đây đi. Trước khi tôi đi cậu còn có câu hỏi gì về nhiệm vụ của cậu nữa không?

– Không, thưa Ngài. Tôi sẽ hoàn thành tốt nó, cũng như những lần trước.

– Tôi cũng hy vọng thế. Cậu nên nhớ rằng không gì quan trọng hơn quyền lợi và vị thế của Vương quốc Anh. Nếu mọi chuyện suôn sẻ cậu sẽ quay lại London vào tháng 11 tới. Chào cậu.

Cấp trên của tôi chấm dứt bài giáo huấn tại đây và quay lưng đi mất một cách vội vã mà không buồn bắt tay tôi. Ông ta thật tẻ nhạt. Làm việc cho những người như ông ta thật là chán ghê gớm. Nhưng sau lưng tôi là những đồng tiền thuế của người dân Anh. Tôi không thể làm họ thất vọng, ngay cả khi tôi không phải là James Bond.

22 giờ 40 phút. Âm nhạc lên đến cao trào. Đám đông như lên đồng trong giai điệu “I Feel Love” của Donna Summer. Tôi sửa soạn vào đúng vị trí cho vai diễn của mình. Phải đứng đúng chỗ bậc tam cấp này, khi ngã xuống có thể phải lăn một vòng, đầu có thể va vào cái bình cổ Syria bằng gốm có tay cầm đặt ngay dưới tam cấp, nhưng không sao, đừng làm vỡ nó là được. Nó có thể là một cổ vật vô giá mà chủ nhân tòa biệt thự này cũng không biết. Tôi ăn thêm một miếng baklava, bánh làm quá khéo, ngọt vừa phải và như tan trong miệng.

22 giờ 45 phút. Bây giờ là “She’s Not There” của Santana. Không đúng lúc tí nào. Thứ nhất, người phụ nữ cùng thực hiện nhiệm vụ với tôi đang ở đây. Thứ hai, tôi ghét đặc Carlos Santana, nhạc của hắn trăm đĩa nghe như một. Nhưng tôi sẽ không để gu âm nhạc cá nhân ảnh hưởng đến nhiệm vụ.

Và nàng xuất hiện ở góc 9 giờ, trên ban công tầng thượng. Mặc một chiếc váy dạ hội có họa tiết hình lông đuôi công, nhiều khả năng là của Chloé. Trông nàng thật quyến rũ. Tôi theo sát cử chỉ của nàng, nhưng không phải vì ngưỡng mộ vẻ quyến rũ của nàng. “Bắn đi cô em, tôi sẵn sàng rồi đây” – tôi lầm bầm trong miệng.

22 giờ 47 phút. Trời đất, sao không thấy cái gì thế này? Người đẹp mặc đồ Chloé ngừng di chuyển, còn tôi thì thấy túa mồ hôi mặc dù trời đang rất mát. Bắn đi nào, chỉ một phát thôi. Tôi kết thúc mạch suy nghĩ cùng với một tiếng nổ đanh, chắc gọn. Nhảy thôi. Xung quanh tôi giờ đây toàn tiếng la hét của phụ nữ, tiếng đồ thủy tinh vỡ, tiếng bước chân chạy rầm rập.

Phán đoán môi trường xung quanh. Phán đoán môi trường xung quanh.

Tôi không trúng đạn, đó là điều chắc chắn. Nhưng cái bình gốm cố Syria đã vỡ vụn. Viên đạn găm xuống chỗ dưới bậc tam cấp, chỗ nhẽ ra mà tôi phải ngã xuống theo đúng kịch bản. Nó bật trở lại và kết liễu số phận của cái bình, thay vì tôi. Thật là một câu chuyện ngu xuẩn. Tôi lẩn vào đám đông theo đúng kỹ năng của một điệp viên khi nhiệm vụ bị đổ bể và nhanh chóng tìm ra lối thoát gần nhất.

Hàng chục câu hỏi quay vòng vòng trong đầu tôi. Ai bắn? Ai đã gài tôi và cả cấp trên của tôi? Cấp trên gài tôi? Người đẹp mặc đồ dạ hội Chloé kia là ai? Sớm hay muộn tôi sẽ tìm ra câu trả lời. Có một điều chắc chắn là giờ đây tôi không thể quay về Dan Carmel. Không còn an toàn nữa rồi. Tôi cũng không thể trở về London vào tháng 11 này. Tôi chỉ có một điểm đến duy nhất: nhà ga Haifa Bat Galim. Tôi có chìa khóa của ngăn để đồ số 420, trong đó có hộ chiếu giả của tôi do Mossad cung cấp. Tôi sẽ chạy thẳng ra sân bay Ben-Gurion, bắt chuyến bay sớm nhất đi Athens, nơi tôi có chìa khóa của một loạt chỗ ẩn náu an toàn. Chưa biết điều gì sẽ xảy ra với tôi ở đó, nhưng tôi phải đến Athens.

Thật là một ngày tồi tệ, nhưng ít ra tôi vẫn không quên cầm theo một ít baklava. Bạn không thể bị đánh bại chừng nào vẫn còn có baklava, tôi nghĩ vậy khi ngồi yên vị trong taxi và nhón một miếng nhỏ cho vào miệng.

 

Hải Phòng ngày cũ.

Ông nội cùng cụ bà trôi dạt ra Hải Phòng từ năm 1934, sau một quãng thời gian dài dắt nhau đi kiếm sống khắp các tỉnh miền Bắc.

Cụ ông ở quê (Duy Tiên, Hà Nam) làm lý trưởng, có tiếng mà không có miếng, lại suốt ngày đánh đập vợ con, nên cụ bà phải rời vùng chiêm khê mùa thối ấy đi tha phương. Hải Phòng thời đó là một tiền đồn quan trọng của Pháp ở hải ngoại, với những cơ sở công nghiệp quan trọng mang tính sống còn cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, cũng là thành phố đầu tiên ở Việt Nam được dùng điện. Sông Lấp chạy dọc thành phố, từ bến xe Tam Bạc hiện giờ, qua trước mặt Nhà Hát Lớn ra đến Cảng, sau này Toàn quyền Bonnard lệnh cho lấp đi để cải tạo thành dải công viên trung tâm hiện nay. Rất nhiều công trình kiến trúc từ thời bấy giờ đến nay vẫn còn nguyên trạng, nằm rải rác ở các đường Trần Phú, Điện Biên Phủ, Minh Khai, Hoàng Diệu… có những tòa nhà tiếp tục được sử dụng cho những mục đích quan trọng sau ngày giải phóng, như trụ sở Ngân hàng Nhà nước dưới chân cầu Lạc Long với những khối đá hoa cương màu tối và lạnh, hay trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ngô Quyền ở gần ga ngày xưa đã từng là trụ sở của Standard Oil & Co. Nhà Hát Lớn Hải Phòng thì khỏi phải nói rồi, xét về nội thất và không gian thì Nhà Hát Lớn Hà Nội chỉ đáng làm đàn em.

Ông nội tham gia cách mạng, chiến đấu trong lực lượng của Trần Thành Ngọ (1918-1947), người chỉ huy mặt trận Cầu Niệm – Kiến An trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2. Sau ngày Pháp rút đi năm 1954 theo Hiệp định Geneva, ông tham gia vào lực lượng công an tiếp quản Hải Phòng. Ông vẫn còn giữ được tấm ảnh chụp kỷ niệm của lực lượng công an ở Kiến An. Hàng trăm con người đồng phục oai phong, khỏe khoắn, súng dắt trong bao da ở hông đứng chật kín khuôn hình, tạo nên một thứ sức mạnh khiến cho người xem phải kính nể cho dù nước ảnh đã cũ, rất cũ. Trông họ như những chàng cao bồi trong phim ảnh chứ không phải những người tiên phong trong lực lượng công an đầu tiên của một đất nước mới giành được độc lập.Ông nội gặp bà rồi xây dựng một gia đình với tám đứa con, bốn trai, bốn gái. 10 con người ở trong một căn hộ mười mấy mét vuông trong một cái ngõ trên đường Nguyễn Đức Cảnh bây giờ, đối diện với Nhà Hát Lớn. Cảnh sống chen chúc chẳng khác gì phố cổ Hà Nội, mùa hè nóng quá ban đêm cả nhà phải sang vỉa hè quảng trường Nhà Hát Lớn mà ngủ vật vạ cho qua giấc. Bà nội là người tháo vát, có thể xoay sở cho 10 miệng ăn chỉ bằng một phản thịt bày bán (tất nhiên là bất hợp pháp) ở chỗ tượng đài bà Lê Chân bây giờ. Nhờ mối quan hệ, bà mua lại tem phiếu để đổi lấy những miếng thịt, những bìa đậu ngon từ cửa hàng mậu dịch rồi đem ra ngoài bán lại. Hàng ngày, bà chở ba tôi trên chiếc xe đạp Liên Xô ra phố với một cái làn, trông như hai mẹ con đang đi chợ. Thực phẩm cất ở trong làn, cũng chỉ có số lượng của một lần đi chợ, phòng khi bị người của Nhà nước kiểm tra. Nếu cần thêm, bà sẽ cử ba tôi đi lấy từ chỗ cất giấu. Ba tôi vốn nhút nhát và hay xấu hổ, cuối cùng lại được bà nội tin tưởng cho một công việc khá mạo hiểm lúc bấy giờ. Có lẽ bà đồng cảm với một đứa con giống tính bà, có thiên hướng đam mê những giá trị tinh thần. Chữ viết tay của bà rất đẹp, bà có sổ chép thơ chép nhạc riêng để ở đầu giường, bà thích và thuộc nhiều chèo.

Hải Phòng trước Chiến tranh phá hoại là trung tâm văn hóa và kinh tế lớn nhất miền Bắc, là cửa ngõ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra thế giới. Thành phố có khoảng 10 rạp chiếu phim, vào mỗi cuối tuần những chiếc xe Citroen 2CV huyền thoại (hay còn được gọi một cách dân dã là xe “Con Vịt”) sót lại từ thời Pháp lại đi khắp các phố phường quảng cáo cho phim mới chiếu ở các rạp. Bác cả dắt các em đứng đợi trước cửa rạp cho đến khi hết suất chiếu, rồi lẻn vào nhà vệ sinh đợi cho suất chiếu kế tiếp bắt đầu chạy ra xem ké. Các thủy thủ đến từ các nước khối xã hội chủ nghĩa như Đông Đức, Ba Lan, Liên Xô cũng tỏ ra là những tay đi buôn thức thời, cho nên hàng hóa ngập tràn thị trường chợ đen, từ mỹ phẩm cho đến đĩa hát. Ông bác cả của tôi từ thời đấy đã biết “kết nối” với đám dân buôn này bằng những câu tiếng Anh bồi như “Hello, my friend” mà cho đến bây giờ ông vẫn tưởng nó nghĩa là “buôn lậu”. Thế rồi sự kiện vịnh Bắc Bộ xảy ra, Mỹ bắt đầu ném bom phá hoại và phong tỏa kinh tế miền Bắc. Cuộc sống gia đình trở nên khó khăn hơn, gánh nặng kinh tế gia đình trở nên quá sức khiến bà nội trở bệnh rồi mất năm 1970. Ông một mình ở vậy nuôi dạy 8 đứa con, cho đến nay tuy hoàn cảnh kinh tế và nghề nghiệp có khác nhau nhưng đều có thể tự hào mình là người lương thiện đủ sức nuôi gia đình mình. Cho đến khi mất năm 2011, ông vẫn khá minh mẫn và khỏe mạnh. Nhưng chắc chắn có rất nhiều ngóc ngách của lịch sử gia đình, cũng như lịch sử Hải Phòng đã theo ông rời cõi tạm về thế giới bên kia.

Lâu lâu dịch tí.

“Tao ca tụng bản thân, tao hát về bản thân
Thứ tao nhận về rồi đây mày sẽ nhận
Vì cụ tỉ nếu xét riêng về chất,
tao với mày có khác đéo gì nhau

Tao rong chơi, tao mời gọi linh hồn
Tao ngả ngớn,
tao dựa cả vào đầu ngọn cỏ mùa hạ

Đầu lưỡi tao, đến từng mảnh hồng cầu,
đều từ sinh khí đất trời mà ra
Như cha mẹ tao cũng như cao tằng tổ khảo
Nay tao ba mươi bảy, sức lực tràn trề
và muốn mình sung mãn cho đến khi chết

Trường học và giáo điều cũng đã đến hồi vãn cuộc,
học đủ rồi, nghỉ thôi, đừng có quên
Tao dung dưỡng cả điều tốt điều xấu
Tao tự nói ra, dù có khó khăn trở ngại,
bản chất của tao với năng lượng ban sơ”

Đoạn 1, “Song of Myself” của Walt Whitman

“Cassius Clay bị ghét bỏ
hơn Sonny Liston
Họ thích K.K. Downing
hơn là Glenn Tipton
Vài người thích Jim Nabors
Vài người thích Bobby Vinton
Tôi thì thích tất

Tôi gác chân
lên bàn uống nước
thức đến khuya để xem truyền hình cáp,
những bộ phim cổ có Clark Gable
Giống như ba tôi ngày xưa

Giống như ba tôi ngày xưa
Khi ông về nhà,
Thức khuya
Thức một mình
Khi ông tư lự
sao thời gian trôi quá mau

Tôi biết một bà già
mở một tiệm bánh rán
hay bán khuya phục vụ lũ cớm
Rồi đến một sáng kia
trái tim bà ngừng đập
và nơi đó không còn như xưa

Không còn như xưa nữa rồi,
vì thiếu đi bóng dáng bạn tôi, Eleanor
Không còn như xưa nữa rồi,
sao đổi thay nhanh quá.

Tôi chôn vùi mối tính đầu tiên
Khi tôi mười chín tuổi
Khi tôi chui vào phòng ngủ của nàng
và trong túi chiếc quần jeans nàng mặc
Tôi tìm thấy lá thư của nàng
nói quá nhiều điều
khiến tôi tổn thương

Tôi không bao giờ
thì thầm tên nàng nữa
Nhưng tôi vẫn mơ về
những điều đã có thể xảy ra
Tôi không bao giờ
nghe nàng gọi nữa
Nhưng tôi vẫn muốn mơ…”

Ca khúc “Glenn Tipton” của Sun Kil Moon, trong album “Ghosts of the Great Highway”

—-

“Con đã nghe thấy gì, hỡi đứa con trai mắt xanh của ta?
Và con đã nghe thấy gì, hỡi tình yêu bé nhỏ của ta?
Ta đã nghe thấy tiếng sấm, ì ầm lời đe dọa
Ta đã nghe thấy tiếng gầm của ngọn sóng sẽ chôn vùi cả thế giới
Ta đã nghe hàng trăm tay trống với bàn tay rực lửa
Ta đã nghe hàng ngàn lời thì thầm mà chẳng ai lắng nghe
Ta nghe một kẻ chết đói, trong khi vạn kẻ cười vui
Nghe ca khúc của một ca sỹ đã chết nơi cống rãnh
Nghe tiếng khóc của gã hề thổn thức nơi hẻm nhỏ
Và thật nặng hạt, thật nặng hạt, thật nặng hạt
Cơn mưa rào cứ thế sẽ tuôn rơi.”

Một đoạn trong “A Hard Rain’s A-Gonna Fall” của Bob Dylan

“Em ơi,

Bởi vì thần tượng chỉ là chính họ khi họ được làm bằng đá
Đấng cứu thế là một nỗi phiền toái khi em sống chung cùng mái nhà
Những vì sao thường rơi rụng, những anh hùng thường sống trong im lặng
Và những kẻ tử vì đạo, thường ra đi quá sớm đó em.”

Một đoạn trong “Winds of the Old Days” của Joan Baez

 

Hãy chắc rằng mày còn sống để lấy súng

Một câu chuyện buồn về một cuộc đời buồn, và cũng có thể giúp người đọc hiểu hơn về nguyên nhân các vụ bắn giết hàng loạt tại các trường học và nơi công cộng ở nước Mỹ. Bài gốc “Make Sure You’re Alive to Collect” của Lisa Sorg đăng trên Vice Magazine ngày 22/01/2013.

vice

Hãy chắc rằng mày còn sống để lấy súng

Nguy hiểm và phát cuồng vì súng, bà bác Debra đã ám ảnh gia đình tôi hơn 20 năm

Lisa Sorg

Đó là Giáng Sinh năm 1990 ở nhà bà ngoại tôi. Những tấm rèm dày và nặng ở phòng khách đã được kéo xuống. Mẹ tôi và tôi ngồi ở bên mép giường. Ngồi trong cái ghế bành đối diện chúng tôi là bác Debra, chị gái của mẹ tôi, người sống cùng nhà với bà. Trong một cái ghế khác là bà tôi, lúc đó đang ở giai đoạn giữa của căn bệnh mất trí. Xung quanh phòng là một vài cái bàn ghế trang trí. Và đặt trên mỗi thứ đó là một khẩu súng.

Chúng tôi chưa bàn đến việc trao đổi quà Giáng Sinh, nhưng Debra đã đưa cho tôi một khẩu súng ngắn 38 ly với một hộp đạn, một bao súng, 100 đôla, và một bức thư ngắn.

“Để đọc sau nhé,” bà nói.

Đến một lúc nào đó trong buổi chiều, câu chuyện trở nên tồi tệ. Debra với tay ra đằng sau và lôi ra một viên đạn từ trong cái hộp ở giá sách gần đó. Bà cầm nó giữa ngón tay cái và ngón tay chỏ, nhìn thẳng vào mẹ tôi và nói, “Janna, trên viên đạn này có tên mày đấy.”

Mẹ tôi và tôi lao vội ra ngoài đường mòn để chạy tới xe của chúng tôi, lúc đó đang đỗ bên ngoài bờ rào cao 10 feet buộc đầy dây thép gai bao quanh khu nhà. Trong lúc mẹ tôi nổ máy, tôi ngoái lại nhìn Debra đang chạy xuống sườn đồi về phía chúng tôi. Bà đội một cái mặt nạ trượt tuyết màu đen, mặc áo khoác rằn ri, quần jean màu xanh, và đi boot. Hình ảnh đen tối của bà tương phản với màu tuyết trắng, trừ những lúc bà biến mất sau những cây thông. Tôi để một chân ở trong xe, còn một chân ở bên ngoài trên tuyết. Khi Debra đến gần, tôi có thể thấy hơi nước bốc ra từ cái lỗ thở trên mặt nạ trượt tuyết của bà.

“Bác cho mày cái này nữa,” bà nói, đưa cho tôi một khẩu 9 ly bán tự động và một hộp đạn. Bà chỉ cho tôi cách nạp và tháo băng đạn.

“Debra, đừng đưa cả nhà xuống mồ!” mẹ tôi gào lên từ trong xe.

“Chúc Giáng sinh vui vẻ,” Debra nói với tôi.

“Chúc Giáng sinh vui vẻ,” tôi trả lời. “Cám ơn bác về tất cả.”

***

Bác Debra rất nổi tiếng trong cái thôn ở vùng quê bang Indiana nơi tôi lớn lên. Gần như trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, bà đã dọa giết và thử giết nhiều người. Như bà ngoại tôi , bằng cách ném cả chảo dầu nóng vào đầu, và sau đó đầu độc bà bằng những thứ thuốc mà bác ăn trộm được ở phòng khám tâm thần và trại dưỡng lão nơi bác làm việc. Như mẹ tôi, người mà Debra coi là đối thủ cạnh tranh về tình cảm. Như bố tôi, người mà bà khẳng định là có ngày sẽ bị đốn gục bởi một loạt đạn nã vào hông xe. Như những người quản lý ở chỗ làm của bà, rất miễn cưỡng khi phải sa thải bà vì sợ có ngày bác tôi sẽ quay lại chỗ làm và bắn chết họ. Như những người làm chung chỗ của bà, bị bà kết tội là “làm việc hai mang” và luôn âm mưu chống lại bà. Hay những người lạ đi đường dám “nhìn đểu” bà. Một ngày nọ bác tôi bắn hai phát súng vào đám trẻ đang nô đùa bên đường vì chúng làm bà khó chịu. “Bà ấy làm tôi mất bình tĩnh và phát khiếp lên được, tôi rất lo sợ cho các bệnh nhân”, một trong số quản lý của bà nói với mẹ tôi. “Cái nhìn của bà ta đầy ác độc.”

Vậy mà trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, Debra chưa bao giờ giết ai.

Bà ngoại tôi sinh Debra năm 40 tuổi – đứa con đầu lòng sau khi đã cố gắng có mang trong 22 năm. Mẹ tôi ra đời chỉ hơn một năm sau đó. Bà luôn cảm thấy chị mình có cái gì đó không ổn. “Khi mẹ cầu nguyện hàng đêm, mẹ cầu Chúa hãy lấy một vài niềm hạnh phúc của mẹ để ban tặng cho bác ấy,” – mẹ tôi đã nói với tôi như vậy. Khi còn nhỏ, Debra hay bị ảo giác. Bà thường ngồi trên ghế và rơi vào trạng thái bị thôi miên. “Mọi người có thể đến hét vào mặt bác ấy mà bác ấy chẳng bao giờ tỉnh ra.” – mẹ tôi nhớ lại.

Năm 1969, Debra nhập ngũ vào quân đội Mỹ vào thời điểm cao trào của chiến tranh Việt Nam. Ở đó, bà nhận được danh hiệu thiện xạ và được đào tạo căn bản về đàn áp nổi dậy, tâm lý chiến, chiến tranh không thông thường, sinh tồn và trốn thoát.

Bốn năm sau, khi đã lên đến hàm đại úy, Debra nhận được một lá thư từ Quân đội nói rằng họ sẽ không giữ bà tại ngũ nữa. Bà bị tống ra ngoài với một người bạn – một người đàn bà khác và quay về nhà.

Sau khi ông ngoại tôi mất, ngôi nhà nơi bà ngoại tôi và Debra sống dần dần bị cải tạo thành một pháo đài. Debra đặt song sắt vào cửa sổ, cửa ra vào và tích trữ xăng trong garage, chỉ vài bước cạnh một đống than trên đường cho xe ra. Bà mua tất cả các loại súng và những tấm séc bảo hiểm xã hội của bà ngoại tôi có thể chi trả được: 9 ly, 45 ly, 38 ly, Glocks, súng săn, AK, và khoảng 40,000 băng đạn các loại – đạn bắn thủng vỏ xe bọc thép, đạn cháy dưới nước, đạn phát nổ khi tiếp xúc với cơ thể.

Mẹ tôi gọi các cơ quan dịch vụ xã hội, cảnh sát, và cả FBI để báo động họ về kho vũ khí đang phình ra của Debra. Cảnh sát trưởng ở thôn dọa rằng sở của ông sẽ ngừng nghe những cuộc gọi 911 đến nhà Debra vì sĩ quan của ông ta đều có con nhỏ “Không đáng chết vì một bà già.”

Bà ngoại tôi tuy vậy lại không phản đối hành vi tích trữ của Debra. Một ngày nọ bà tôi trở bệnh và phải gọi các nhân viên cấp cứu đến nhà, một người trong số họ sau đó nói với tôi “Tao phát hoảng vì những thứ đồ quân sự trong nhà, bà bác mày đã sẵn sàng đi xâm lược rồi.”  Tôi nghĩ chắc phải dùng đến máy bay oanh tạc mới có thể cưỡng chế Debra và bà ngoại tôi ra khỏi chỗ đó.

Cho đến lúc ấy thì gia đình tôi đã hết cách. Để theo dõi sức khỏe bà ngoại tôi, mẹ tôi đồng ý để Debra đến thăm chúng tôi tại nhà. Vào những ngày mà bà đến, khi mà lũ chó bắt đầu sủa và bố tôi nhìn thấy chiếc Ford Fiesta màu vàng bò chầm chậm vào trong đường nhà tôi, ông sẽ nói, “Debra đến rồi.”

Ở thời điểm đó, chúng tôi đang làm gì cũng sẽ phải dừng lại – đặt sách, bát đĩa, ô chữ xuống – và sẵn sàng chuẩn bị cho bản thân.

Mọi thứ trở nên nguy kịch vào một chuyến viếng thăm của Debra hè năm 1979. Mẹ tôi và Debra có một cuộc tranh luận nảy lửa qua điện thoại về bà ngoại tôi, người mà khi chúng tôi gọi đến đã nói chuyện một cách mệt mỏi và lơ mơ như bị đánh thuốc.

Debra dập máy. Bà đang trên đường tới đây.  Chúng tôi biết rằng bà mang theo ít nhất hai khẩu súng vào mọi lúc, kể cả khi đang phơi đồ hay ra lấy thư..

Mẹ tôi dẫn tôi lên phòng ngủ trên gác, ra cái lan can nhìn xuống phòng khách. Bà bỏ một khẩu súng lục 38 ly ra khỏi ngăn kéo và đưa nó cho tôi, đặt tôi vào phía sau một cái tủ mà từ đó có thể quan sát rõ được phòng khách qua rào chắn lan can. Năm đó tôi 14 tuổi. “Nếu Debra rút súng ra, hãy bắn bác ấy,” mẹ nói với tôi

Debra đến nơi. Tôi quan sát cuộc tranh luận qua rào chắn lan can. Trên gác nóng nực và chật chội. Tôi nắm chặt khẩu súng bằng cả hai tay, giữ nó sát cằm. Trước đó chưa bao giờ tôi cầm súng cả. Tôi không lo lắng về điều gì sẽ xảy ra khi tôi bắn trúng Debra, tôi chỉ lo sẽ ra sao nếu như tôi bắn trượt.

Sau 10 hoặc 15 phút, cuộc tranh luận hạ hỏa, và Debra bỏ đi. Mẹ tôi lên gác, lấy khẩu súng từ tay tôi và cất nó vào ngăn kéo. Tôi chạy ra ngoài chơi bóng rồ.

Không lâu sau sự việc này, tôi bắt đầu gặp ác mộng. Trong một giấc mơ lặp đi lặp lại, tôi là người hùng. Debra lái xe đến nhà tôi và bắn bố tôi. Còn lại cả nhà – mẹ, em trai, em gái và tôi – co cụm trong phòng khách khóc lóc van xin bà ta tha mạng. Tôi sẽ bước đến, chìa tay ra và nói, “Debra, đưa súng cho cháu.”

Trong một giấc mơ khác, tôi lại là kẻ hèn nhát. Trong mơ luôn là mùa đông. Debra sẽ bắn chết tất cả mọi người trong nhà trừ tôi. Tôi sẽ chạy trốn bằng cách chạy ra khỏi nhà vào rừng.Tôi cảm thấy bà đang ngắm bắn vào phía sau đầu tôi  nhưng vẫn tiếp tục chạy qua những khóm cây trơ trụi, nhảy qua hàng rào dây thép gai, và băng qua cánh đồng trồng đỗ đến một nhà hàng xóm. Tôi sẽ đập cửa cho đến khi có người trả lời rồi gào lên, “Cứu chúng tôi với!”

***

Vào năm 1983, tôi rời quê và chuyển đến Bloomington, Indiana, cách nhà hơn 100 dặm để học đại học. Hiếm khi tôi gặp Debra sau đó. Tôi bán hết những khẩu súng mà bác đã tặng tôi nhân dịp Giáng sinh. Tôi đọc – và trong nỗ lực để hiểu hơn về bà, thỉnh thoảng lại đọc lại – bức thư mà bà đã đưa cho tôi. Nó dài đến sáu trang.

Một vài trích đoạn ngắn:

Số. 1: Ngay cả khi đi vệ sinh cũng hay mang súng theo. Ai đó sẽ khiến mày bất ngờ và làm cháu khó chịu. Hãy giết hắn bằng súng của mày ngay khi đang đi tiểu. Mày không thế giết hắn bằng cách ị lên đầu hắn.

Số. 2: Mang theo súng ở mọi nơi mày đến, ngay cả khi chỉ ra ngoài hai phút để đổ rác. Đừng bao giờ để mình phải chết trong túi rác để bọn Sở Vệ Sinh đến nhặt.

Số. 3: Đừng bao giờ rút súng ra để cứu người khác. Nếu như họ biết lo cho mạng sống của họ thì họ đã phải có súng.

Số. 4: Theo lẽ tự nhiên thì mày sẽ sống lâu hơn bác. Mày sẽ được thừa hưởng rất nhiều thứ nhất là khi giá súng đang ngày một tăng. Hãy chắc rằng mày còn sống để lấy được súng.

Năm 1996, bà ngoại tôi qua đời thanh thản trong giấc ngủ tại viện dưỡng lão. Debra không đến dự đám tang. Bác không bao giờ gọi điện báo hoặc đưa ra lý do, nhưng sau đó đã đến viện dưỡng lão để thu  thập tất cả đồ dùng của bà ngoại tôi.

Debra tham gia vào KKK và bắt đầu tham dự trại huấn luyện tinh thần ở gần  Chesterfield, nơi mà theo như bác kể lại là bác đã tham gia vào các nghi lễ Satan. Trạng thái tâm lý mong manh của bà bắt đầu tan rã. Khi bà cố gắng để rời bỏ khu trại, Debra liên lạc với mẹ tôi và nói rằng lũ ác quỷ đang kéo bà lại để đem linh hồn bà xuống địa ngục. Trong thời gian này, bà mất hết việc ở các trại dưỡng lão khi những bệnh nhân mà bà chăm sóc trở bệnh và qua đời một cách bí ấn.

Đầu tháng 10 năm 1999, mẹ tôi gọi tôi từ Bloomington về nhà. Debra đã ghé qua nhà tôi và đưa cho mẹ tôi chìa khóa cũng như giấy tờ hai chiếc xe của bác, giấy tờ nhà, và một bọc tiền xu. “Tao đi Virginia vài tuần tới,” bà nói. Trong ba giờ sau đó, họ ngồi ở bàn ăn, uống rượu và nói chuyện về sự tha thứ và về Chúa.

“Mày có tha thứ cho những gì mà tao đã làm với mày không?” Debra hỏi.

“Em tha thứ cho chị từ lâu rồi,” mẹ tôi trả lời.

“Tao muốn có quyền lực,” Debra thú nhận. “Quyền lực để làm tổn thương kẻ khác và để trả thù. Tao chưa bao giờ yêu thứ gì trong đời cả.”

Rồi họ ôm nhau.

“Em yêu chị, Debra,” mẹ tôi nói.

Hai tuần sau, mẹ tôi gọi Debra để xem bà đã đi Virginia về chưa. Bác không nhấc máy. Sáng ngày 23/10, bố mẹ tôi đến nhà bà. Cánh cửa thép bên ngoài đã khóa, bố tôi phải cậy một cửa sổ nhỏ phòng ngủ từ cái bản lề của nó. Mùi hôi thối bên trong tỏa ra khiến ông ngã ngửa.

Họ chạy về nhà và gọi 911. Cảnh sát trưởng chặn đường lại và gọi đội phá bom đến để phòng trường hợp Debra quấn chất nổ vào người.

Một sỹ quan cảnh sát trẻ ngó qua cửa sổ và nói “Tôi nhìn thấy rồi”

Anh ta vung xà beng lên đập vỡ kính. Sau khi chắc rằng bác tôi không cài mìn quanh người, các sỹ quan khác vào nhà và mở khóa cửa.

Tối ngày 15/10/1999, hoặc sát ngày đó, Debra chắc đã trở về nhà, bật lò sưởi ở mức cao, và cởi hết quần áo ra chỉ còn lại áo thun và đồ lót. Bà viết một bức thư dài ba trang cầu xin Jesus cứu rỗi linh hồn bà. Bà mở quyển Kinh thánh ở Bài số 23, mà bà đã khoanh tròn bằng mực. Bà uống thuốc an thần với bia Natty Ice, sau đó cầm lấy một khẩu 9 ly, chĩa vào ngực rồi bóp cò.

Khi tôi đến nhà Debra vào buổi chiều ngày 23/10, bác sỹ pháp y đã đóng xác bà mang đi. Tôi tìm thấy đôi găng tay màu xanh dính máu của ông ta trong một đống lá khô ngoài cửa sổ phòng ngủ của bác tôi. Cảnh sát đã lấy một khẩu súng cưa nòng ra khỏi nhà. Trong nhà chỉ còn lại mỗi khẩu 9 ly.

“Bà muốn lấy nó không?” cảnh sát trưởng hỏi mẹ tôi.

“Tôi chẳng muốn lấy nó để làm gì,” mẹ tôi trả lời. Sau đó, trong phòng khách, bà nói cho tất cả mọi người cùng nghe, “Ít ra thì bà ta không mang theo ai.”

Tôi nghe thấy tiếng anh trai tôi thở dốc khi hắn kéo cái TV từ phòng ngủ của bác tôi ra ngoài xe của hắn.

Bố tôi đi dạo quanh nhà, hát rằng, “Ding-dong! Mụ phù thủy chết rồi.”

Tôi nhặt một cái bút và ghi nhận những thứ xung quanh. Mặc dù trong nhà vẫn có điện, nguồn sáng duy nhất còn hoạt động là cái bóng đèn nhỏ trong cái tủ lạnh trống rỗng. Vài trăm viên đạn vẫn còn nằm trong hộp rải rác xung quanh nhà. Trong chạn còn một ít thức ăn cho mèo và một chai vodka còn một nửa. Trong bồn rủa bát có một cái thìa và một hộp Metamucil rỗng. Một hộp lông gà. Rượu rum, mật ong, chanh cắt lát và vài mẩu san hô được đặt lên bàn. Một bức thư cho các vị thánh dòng Santeria. Hình lưu niệm của Angela Lansbury. Những chiếc váy còn nguyên giá tiền. Một hộp thuốc nhuộm tóc màu nâu vừa. Một vỏ gối dính máu in hình Barbie và Ken.

Ở bên ngoài, trời đang tối dần, gió bắt đầu mạnh lên và từ các đám mây cơn mưa lạnh ập xuống. Chúng tôi góp số tiền mà chúng tôi tìm thấy ở các ngóc ngách trong nhà lại. Tổng cộng có 13 đôla.

Chúng tôi khẽ khàng khép lại cánh cửa phía sau.

Rồi lái xe xuống phố và mua một cái pizza.

Chuyện thú vị về các Hoàng gia châu Âu.

 

  • Hoàng tử Michael xứ Kent (1942-), chú của Nữ hoàng Elizabeth II, nếu xét về phả hệ là chắt của Nicholas Đệ nhị (1868-1918) – Sa hoàng cuối cùng của nước Nga. Ông có ngoại hình rất giống với cụ của mình, nói thông thạo tiếng Nga và là một thành viên danh dự của Hội đồng Gia đình Romanov (một tổ chức do những hậu duệ nam của Hoàng đế Nga Pavel I (1754-1801) lập ra). Năm 1979, khi xương cốt của Sa hoàng và gia đình (bị chính quyền bolshevik xử bắn và chôn trong mộ tập thể vào năm 1918) được phát hiện, các nhà khoa học đã sử dụng DNA của Hoàng tử Michael xứ Kent để nhận dạng cụ của ông.
  • Vua George V của Anh (1865-1936), ông nội của Nữ hoàng Elizabeth II, nếu xét về phả hệ là anh con bác của cả Sa hoàng Nicholas Đệ nhị của Nga lẫn Hoàng đế Wilhelm II của Đế quốc Đức (1859-1941). Vào năm 1917, giữa lúc Thế Chiến thứ I đang diễn ra ác liệt, ông đã có một hành động mang tính cách mạng, đó là đổi tên hiệu của Hoàng gia Anh từ “Nhà Saxe-Coburg và Gotha” thành “Nhà Windsor” như vẫn được dùng chính thức hiện nay. Cùng với việc đó, ông khuyến khích tất cả các thành viên trong Hoàng gia Anh gỡ bỏ tất cả các danh hiệu và tước hiệu có liên quan đến gốc gác Đức của họ. Ví dụ, chú của George V là Hoàng tử Louis xứ Battenberg (1854-1921) đã đổi tên thành Louis Mouthbatten. Louis Mouthbatten là ông nội của Hoàng thân Philip, Công tước xứ Edinburgh – chồng của Nữ hoàng Elizabeth II.
  • Vua Constantine II, hoàng đế cuối cùng của Hy Lạp, trị vì từ năm 1964 đến năm 1973, nếu xét về phả hệ là anh con bác của Hoàng thân Charles, Thân vương xứ Wales – con trai Nữ hoàng Elizabeth II. Ông là cha đỡ đầu đồng thời là bác họ của Hoàng tử William, Công tước xứ Edinburgh. Vua Constantine II hiện sống ở Anh và là thành viên danh dự của Ủy ban Olympic Quốc tế.
  • Có hai vị vua trị vì từ trước Thế Chiến thứ II hiện vẫn còn sống, đó là Vua Michael của Romania (sinh năm 1921) và Sa hoàng Simeon Đệ nhị của Bulgaria (sinh năm 1937). Vua Michael của Romania lên ngôi năm 1927 lúc mới có 6 tuổi, thoái vị năm 1930 để nhường ngôi cho cha mình là Vua Carol II, và quay trở lại trị vì từ năm 1940 cho đến năm 1947. Trong Thế chiến thứ II, ông ủng hộ phe Đồng minh và đã tham gia đảo chính lật đổ Chính phủ thân Đức của Thủ tướng Antonescu. Sau chiến tranh, ông được trao tặng cả Bắc Đẩu Công Trạng của Mỹ lẫn Huân Chương Chiến Thắng của Liên Xô, nhưng đến năm 1947 thì bị Đảng Cộng Sản Romania trở mặt ép buộc phải thoái vị. Từ năm 1948 đến năm 1992, ông phải sống lưu vong ở nước ngoài vì chính quyền Romania tước bỏ quyền công dân của ông. Để kiếm sống, ông trở thành một phi công dân sự đồng thời làm việc cho một công ty sản xuất máy bay. Năm 1992, khi ông được chính quyền cho phép về nước để dự lễ Phục Sinh, hơn một triệu người Romania đã đổ ra sân bay để đón ông. Cho đến nay, ông vẫn được phần lớn dân chúng Romania coi là một vị minh quân và ủng hộ ông quay lại ngôi vua.
  • Simeon Đệ nhị của Bulgaria lên ngôi năm 1943 lúc mới có 7 tuổi, và chỉ trị vì được 3 năm trước khi bị phe cộng sản phế truất. Ông cùng gia đình Hoàng gia Bulgaria phải chạy ra nước ngoài để tránh bị thủ tiêu. Năm 1951, chính quyền của Francisco Franco cho phép Hoàng gia Bulgaria được tị nạn chính trị ở Tây Ban Nha. Simeon Đệ nhị theo học luật và quản trị kinh doanh tại TBN, và trở thành một thương gia nổi tiếng. 50 năm sau ngày bị phế truất, ông quay trở lại Bulgaria để hoạt động chính trị và trở thành Thủ tướng Bulgaria từ năm 2001 đến năm 2005. Mặc dù được dân chúng ủng hộ, nhưng ông không có ý định hồi phục lại chế độ quân chủ ở Bulgaria.

 

Hoàng tử Micheal xứ Kent, người có ngoại hình rất giống Nicholas II

Hoàng tử Micheal xứ Kent, người có ngoại hình rất giống Sa Hoàng Nicholas Đệ Nhị